
Doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX:
LƯƠNG VĂN CAN – NGƯỜI THẦY CỦA GIỚI DOANH THƯƠNG
Chí sĩ Lương Văn Can có tên tự là Ôn Như, hiệu là Sơn Lão, sinh năm 1854, người làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Tây (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Đỗ cử nhân năm 1879, được triều đình Huế bổ làm giáo thụ và thực dân Pháp cử làm uỷ viên Hội đồng thành phố Hà Nội, song Lương Văn Can đều từ chối, ở lại quê nhà mở trường dạy học. Năm 1907, cụ cùng một số nhà Nho yêu nước sáng lập, lãnh đạo và giảng dạy ở Trường Đông Kinh nghĩa thục, và được bầu làm thục trưởng (hiệu trưởng). Là một nhân vật chủ chốt của phong trào Duy Tân, cụ chủ trương canh tân đất nước bằng con đường phát triển văn hoá giáo dục trong nhân dân. Tháng 12-1907, nhà trường bị cấm hoạt động, cụ cùng một số đồng chí bị bắt giam nhưng không khai thác được gì, thực dân Pháp đành phải thả. Năm 1913, cụ bị Pháp kết án biệt xứ và đày đi an trí ở Phnom Penh (Campuchia). Năm 1924, sau khi được trả tự do, cụ mất tại Hà Nội. Cụ còn lại hai bài thơ Khuyến trung và Cảm tác đều nêu cao tấm lòng trung với nước.
Ngay từ khi lập gia đình với bà Lê Thị Lễ, một phụ nữ giỏi giang và thạo nghề buôn bán, Lương Văn Can đã bắt đầu gắn kết với kinh thương với các hoạt động xã hội khác, dù đây là một nghề mà xã hội Việt Nam xưa vốn chưa xem trọng. Nếu việc dạy học của Lương Văn Can còn có mục đích là lập chí, lập ngôn chứ không chỉ mưu sinh đơn thuần, thì việc kinh doanh của vợ con cụ có ý nghĩa thiết thực hơn, trực tiếp hơn vì nó ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống gia đình. Có thể, từ những điều quan sát được qua thực tế kinh doanh của gia đình và của hàng phố xung quanh là cảnh buôn bán của Hà Nội ba mươi sáu phố phường, cụ đã đúc kết để tìm ra trong cái thực tiễn sinh động đó một sợi dây kết nối giữa doanh thương như một phương tiện để mưu sinh và làm giàu cho bản thân, với doanh thương như một con đường để hồi sinh, để làm mạnh nội lực quốc gia.
Khi tham gia sáng lập và điều hành Đông Kinh Nghĩa thục (1907 – 1908), Lương Văn Can đã có được cơ hội để mở rộng tầm nhìn đối với doanh thương. Về kinh tế, chủ trương của Đông Kinh Nghĩa thục là kêu gọi quốc dân chấn hưng thực nghiệp, bỏ vốn mở mang công nghệ, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và khai mỏ... Thực hiện chủ trương đó, Ban Tu thư của Đông Kinh Nghĩa thục đã biên soạn sách Quốc dân độc bản (1907) bao gồm trong đó hàng chục đề mục nói về kinh tế, kinh doanh, và phổ biến bài Hợp quần doanh sinh thuyết (1907) của Nguyễn Thượng Hiền dưới hình thức song thất lục bát quốc ngữ để trình bày chủ trương kinh tế theo hướng Duy Tân. Để thực hành tư tưởng chấn hưng thực nghiệp đồng thời cung cấp tài chính cho nhà trường và cho phong trào Đông Du, một số thành viên của trường còn thành lập tại Hà Nội các hiệu buôn Đồng Lợi Tế, Tuỵ Phương, Hồng Tân Hưng, Công ty Đông Thành Xương... Tuy chỉ tồn tại đến năm 1908, nhưng các cơ sở kinh doanh này đã đem lại không ít lợi nhuận và nhất là kinh nghiệm. Là Thục trưởng, kiêm thành viên Ban Tu thư của Đông Kinh Nghĩa thục, Lương Văn Can có điều kiện để chiêm nghiệm về doanh thương một cách toàn diện. Mục đích của các cơ sở kinh doanh của Đông Kinh Nghĩa thục không dừng lại ở lợi nhuận, mưu sinh mà nhằm tạo nguồn tài chính, tạo tiềm lực kinh tế cho các hoạt động Duy Tân – Đông Du, phục vụ mục đích cứu nước. Việc phổ biến các tài liệu tuyên truyền liên quan đến kinh thương còn nhằm “đổi mới tư duy” của cả một dân tộc, một thế hệ đối với vấn đề lĩnh vực này. Vì vậy, tầm nhìn của Lương Văn Can đã được nâng từ tầm nhìn của một người chủ tinh thần của một "doanh nghiệp gia đình" vươn lên tầm nhìn cấp dân tộc, quốc gia. Tầm nhìn này đã nâng doanh thương lên tầm một phương thức tự tồn, tự cường mới của dân tộc Việt Nam, kết hợp trong nó truyền thống văn hoá của dân tộc với kỹ thuật kinh doanh tân tiến của thế giới.
LƯƠNG VĂN CAN – NGƯỜI THẦY CỦA GIỚI DOANH THƯƠNG
Chí sĩ Lương Văn Can có tên tự là Ôn Như, hiệu là Sơn Lão, sinh năm 1854, người làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Tây (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Đỗ cử nhân năm 1879, được triều đình Huế bổ làm giáo thụ và thực dân Pháp cử làm uỷ viên Hội đồng thành phố Hà Nội, song Lương Văn Can đều từ chối, ở lại quê nhà mở trường dạy học. Năm 1907, cụ cùng một số nhà Nho yêu nước sáng lập, lãnh đạo và giảng dạy ở Trường Đông Kinh nghĩa thục, và được bầu làm thục trưởng (hiệu trưởng). Là một nhân vật chủ chốt của phong trào Duy Tân, cụ chủ trương canh tân đất nước bằng con đường phát triển văn hoá giáo dục trong nhân dân. Tháng 12-1907, nhà trường bị cấm hoạt động, cụ cùng một số đồng chí bị bắt giam nhưng không khai thác được gì, thực dân Pháp đành phải thả. Năm 1913, cụ bị Pháp kết án biệt xứ và đày đi an trí ở Phnom Penh (Campuchia). Năm 1924, sau khi được trả tự do, cụ mất tại Hà Nội. Cụ còn lại hai bài thơ Khuyến trung và Cảm tác đều nêu cao tấm lòng trung với nước.
Ngay từ khi lập gia đình với bà Lê Thị Lễ, một phụ nữ giỏi giang và thạo nghề buôn bán, Lương Văn Can đã bắt đầu gắn kết với kinh thương với các hoạt động xã hội khác, dù đây là một nghề mà xã hội Việt Nam xưa vốn chưa xem trọng. Nếu việc dạy học của Lương Văn Can còn có mục đích là lập chí, lập ngôn chứ không chỉ mưu sinh đơn thuần, thì việc kinh doanh của vợ con cụ có ý nghĩa thiết thực hơn, trực tiếp hơn vì nó ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống gia đình. Có thể, từ những điều quan sát được qua thực tế kinh doanh của gia đình và của hàng phố xung quanh là cảnh buôn bán của Hà Nội ba mươi sáu phố phường, cụ đã đúc kết để tìm ra trong cái thực tiễn sinh động đó một sợi dây kết nối giữa doanh thương như một phương tiện để mưu sinh và làm giàu cho bản thân, với doanh thương như một con đường để hồi sinh, để làm mạnh nội lực quốc gia.
Khi tham gia sáng lập và điều hành Đông Kinh Nghĩa thục (1907 – 1908), Lương Văn Can đã có được cơ hội để mở rộng tầm nhìn đối với doanh thương. Về kinh tế, chủ trương của Đông Kinh Nghĩa thục là kêu gọi quốc dân chấn hưng thực nghiệp, bỏ vốn mở mang công nghệ, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và khai mỏ... Thực hiện chủ trương đó, Ban Tu thư của Đông Kinh Nghĩa thục đã biên soạn sách Quốc dân độc bản (1907) bao gồm trong đó hàng chục đề mục nói về kinh tế, kinh doanh, và phổ biến bài Hợp quần doanh sinh thuyết (1907) của Nguyễn Thượng Hiền dưới hình thức song thất lục bát quốc ngữ để trình bày chủ trương kinh tế theo hướng Duy Tân. Để thực hành tư tưởng chấn hưng thực nghiệp đồng thời cung cấp tài chính cho nhà trường và cho phong trào Đông Du, một số thành viên của trường còn thành lập tại Hà Nội các hiệu buôn Đồng Lợi Tế, Tuỵ Phương, Hồng Tân Hưng, Công ty Đông Thành Xương... Tuy chỉ tồn tại đến năm 1908, nhưng các cơ sở kinh doanh này đã đem lại không ít lợi nhuận và nhất là kinh nghiệm. Là Thục trưởng, kiêm thành viên Ban Tu thư của Đông Kinh Nghĩa thục, Lương Văn Can có điều kiện để chiêm nghiệm về doanh thương một cách toàn diện. Mục đích của các cơ sở kinh doanh của Đông Kinh Nghĩa thục không dừng lại ở lợi nhuận, mưu sinh mà nhằm tạo nguồn tài chính, tạo tiềm lực kinh tế cho các hoạt động Duy Tân – Đông Du, phục vụ mục đích cứu nước. Việc phổ biến các tài liệu tuyên truyền liên quan đến kinh thương còn nhằm “đổi mới tư duy” của cả một dân tộc, một thế hệ đối với vấn đề lĩnh vực này. Vì vậy, tầm nhìn của Lương Văn Can đã được nâng từ tầm nhìn của một người chủ tinh thần của một "doanh nghiệp gia đình" vươn lên tầm nhìn cấp dân tộc, quốc gia. Tầm nhìn này đã nâng doanh thương lên tầm một phương thức tự tồn, tự cường mới của dân tộc Việt Nam, kết hợp trong nó truyền thống văn hoá của dân tộc với kỹ thuật kinh doanh tân tiến của thế giới.
Khi Lương Văn Can bị lưu đày sang Phnom Penh (1913 – 1921), không thể dạy học để mưu sinh như trước, nhận thấy nơi đây vẫn còn là một thị trường mới mẻ, cụ cùng con gái, con dâu tổ chức luôn hai rồi ba cửa hiệu, phối hợp với cụ bà Lê Thị Lễ ở Hà Nội và một số thương gia ở Sài Gòn, thiết lập đường dây buôn bán xuyên biên giới Việt Nam – Campuchia. Việc kinh doanh từ đó phát đạt rất nhanh. Đó có thể nói là một thứ "công ty xuất nhập khẩu" đầu tiên mà thương nhân người Việt thành lập trong lịch sử.
Sau khi trở về Hà Nội (năm 1921), Lương Văn Can đã viết 2 cuốn sách bàn về việc kinh doanh, là Kim cổ cách ngôn và Thương học châm ngôn. Bàn về đạo đức kinh doanh, cụ viết: “Bí quyết thành công đối với nhà kinh doanh là ở sự trung thực. Nghĩa là nguồn lợi thu về phải theo lẽ tự nhiên, đừng bao giờ vì lợi mà làm điều xằng bậy. Giả dụ như người tích luỹ gạo, vải mà lại mong mất mùa lúa, mùa bông thì đó là cái tâm địa độc ác. Lại có người kinh doanh chuyên làm hàng giả để đánh tráo hàng thật, cũng bởi lòng tham không cùng mà thôi. Lòng ngay thẳng, khoan hậu với người, đấy cũng là phép kinh doanh vậy!”.
Lương Văn Can không chỉ hướng dẫn cụ thể về nghề thương mại mà còn đề cập đến vai trò của thương mại đối với sự phát triển kinh tế, mổ xẻ tình trạng thương mại yếu kém của nước ta. Sách của cụ gồm các mục như: tư bản, tổ chức sự buôn, tính toán, sổ sách, thư từ, thương hiệu, thương địa, thương điếm, bày hàng, quảng cáo, giao tế tiếp giản, điều lệ nhà băng, sự buôn bán nước ta... Chưa đi vào chi tiết, chỉ lướt qua các đề mục ấy cũng có thể thấy các vấn đề cụ viết chẳng khác mấy với khoa thương mại hiện đại. Cũng là các vấn đề vốn, kế toán, tiếp thị, bán hàng, giao tế, thương hiệu… Cụ viết: “Đương thời buổi thế giới cạnh tranh này, các nước phú cường không đâu là chẳng đua tài, thi sức, ở trong trường thương chiến, văn minh càng tiến bộ, buôn bán càng thịnh đạt. Việc buôn bán thịnh suy có quan hệ đến quốc dân thịnh suy như thế, ta há nên coi thường xem khinh sao được” làm ta không khỏi giật mình vì ông cha chúng ta đã hiểu giá trị của doanh nhân trong khi hậu thế thì chỉ chợt hiểu mới đây! Về năng lực thương mại của ta thời bấy giờ, cụ nhận xét: “Người mình không có thương phẩm, không có thương hội, không có tín thực, không biết trọng nghề, không có thương học, kém đường giao thiệp, không biết tiết kiệm, không nội hóa...
Thương học phương châm và Kim cổ cách ngôn không phải là biên dịch “xào nấu” lại một tác phẩm dạy làm doanh thương của nước ngoài, mà đúc kết những kiến thức và suy nghiệm của cả một đời người. Hai cuốn sách này tuy không phải là những hệ thống lý luận đồ sộ về kinh tế nhưng đánh dấu sự ra đời của một tầm nhìn mới, một kiến thức mới, một phương pháp mới đối với lĩnh vực kinh thương của doanh nhân và trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX. Hai tác phẩm này đã đặt Lương Văn Can vào vị trí khởi nguồn trong lịch sử kinh doanh hiện đại của Việt Nam.
Lương Văn Can từng làm một bài thơ chỉ ra thực trạng sản xuất công thương đương thời: “... Một là mình không có thương phẩm/Hai là không có thương hội/Ba là không có chữ tín/Bốn là không có cái tâm/Năm là không có nghị lực/Sáu là không biết trọng nghề/Bảy là không có thương học/Tám là không biết giao thiệp rộng/Chín là không biết tiết kiệm/Mười là khinh bỉ nội hóa”. Bài thơ này đã tóm tắt 10 điều vô cùng hệ trọng, liên quan đến việc phát triển công thương nghiệp nước nhà, trong đó, tác giả chỉ ra ít nhất 9 điều ta không có hoặc không biết, hoặc giả có biết nhưng không cố gắng thực hiện thành ra thua kém thiên hạ; còn 1 điều ta có, thì buồn thay, lại là điều hoàn toàn không nên có (khinh bỉ hàng nội hóa, tức là người Việt phủ nhận hàng Việt). Xem ra những lời cảnh báo của Lương Văn Can thực sự là “chén thuốc đắng” nhưng có thể góp phần chấn hưng nền kinh tế của đất nước. Quả thật cụ là người biết đi trước thời gian, biết lo cả việc kiến quốc chứ không chỉ lo riêng việc đánh đuổi kẻ thù xâm lược.
Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13-10-2006, 4 doanh nhân tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam gồm Lương Văn Can, Bạch Thái Bưởi, Trịnh Văn Bô, Nguyễn Sơn Hà đã được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam truy tặng danh hiệu Doanh nhân tiêu biểu và cúp Thánh Gióng. Chính cụ chính là người thầy của giới doanh thương Việt Nam.
Sau khi trở về Hà Nội (năm 1921), Lương Văn Can đã viết 2 cuốn sách bàn về việc kinh doanh, là Kim cổ cách ngôn và Thương học châm ngôn. Bàn về đạo đức kinh doanh, cụ viết: “Bí quyết thành công đối với nhà kinh doanh là ở sự trung thực. Nghĩa là nguồn lợi thu về phải theo lẽ tự nhiên, đừng bao giờ vì lợi mà làm điều xằng bậy. Giả dụ như người tích luỹ gạo, vải mà lại mong mất mùa lúa, mùa bông thì đó là cái tâm địa độc ác. Lại có người kinh doanh chuyên làm hàng giả để đánh tráo hàng thật, cũng bởi lòng tham không cùng mà thôi. Lòng ngay thẳng, khoan hậu với người, đấy cũng là phép kinh doanh vậy!”.
Lương Văn Can không chỉ hướng dẫn cụ thể về nghề thương mại mà còn đề cập đến vai trò của thương mại đối với sự phát triển kinh tế, mổ xẻ tình trạng thương mại yếu kém của nước ta. Sách của cụ gồm các mục như: tư bản, tổ chức sự buôn, tính toán, sổ sách, thư từ, thương hiệu, thương địa, thương điếm, bày hàng, quảng cáo, giao tế tiếp giản, điều lệ nhà băng, sự buôn bán nước ta... Chưa đi vào chi tiết, chỉ lướt qua các đề mục ấy cũng có thể thấy các vấn đề cụ viết chẳng khác mấy với khoa thương mại hiện đại. Cũng là các vấn đề vốn, kế toán, tiếp thị, bán hàng, giao tế, thương hiệu… Cụ viết: “Đương thời buổi thế giới cạnh tranh này, các nước phú cường không đâu là chẳng đua tài, thi sức, ở trong trường thương chiến, văn minh càng tiến bộ, buôn bán càng thịnh đạt. Việc buôn bán thịnh suy có quan hệ đến quốc dân thịnh suy như thế, ta há nên coi thường xem khinh sao được” làm ta không khỏi giật mình vì ông cha chúng ta đã hiểu giá trị của doanh nhân trong khi hậu thế thì chỉ chợt hiểu mới đây! Về năng lực thương mại của ta thời bấy giờ, cụ nhận xét: “Người mình không có thương phẩm, không có thương hội, không có tín thực, không biết trọng nghề, không có thương học, kém đường giao thiệp, không biết tiết kiệm, không nội hóa...
Thương học phương châm và Kim cổ cách ngôn không phải là biên dịch “xào nấu” lại một tác phẩm dạy làm doanh thương của nước ngoài, mà đúc kết những kiến thức và suy nghiệm của cả một đời người. Hai cuốn sách này tuy không phải là những hệ thống lý luận đồ sộ về kinh tế nhưng đánh dấu sự ra đời của một tầm nhìn mới, một kiến thức mới, một phương pháp mới đối với lĩnh vực kinh thương của doanh nhân và trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX. Hai tác phẩm này đã đặt Lương Văn Can vào vị trí khởi nguồn trong lịch sử kinh doanh hiện đại của Việt Nam.
Lương Văn Can từng làm một bài thơ chỉ ra thực trạng sản xuất công thương đương thời: “... Một là mình không có thương phẩm/Hai là không có thương hội/Ba là không có chữ tín/Bốn là không có cái tâm/Năm là không có nghị lực/Sáu là không biết trọng nghề/Bảy là không có thương học/Tám là không biết giao thiệp rộng/Chín là không biết tiết kiệm/Mười là khinh bỉ nội hóa”. Bài thơ này đã tóm tắt 10 điều vô cùng hệ trọng, liên quan đến việc phát triển công thương nghiệp nước nhà, trong đó, tác giả chỉ ra ít nhất 9 điều ta không có hoặc không biết, hoặc giả có biết nhưng không cố gắng thực hiện thành ra thua kém thiên hạ; còn 1 điều ta có, thì buồn thay, lại là điều hoàn toàn không nên có (khinh bỉ hàng nội hóa, tức là người Việt phủ nhận hàng Việt). Xem ra những lời cảnh báo của Lương Văn Can thực sự là “chén thuốc đắng” nhưng có thể góp phần chấn hưng nền kinh tế của đất nước. Quả thật cụ là người biết đi trước thời gian, biết lo cả việc kiến quốc chứ không chỉ lo riêng việc đánh đuổi kẻ thù xâm lược.
Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13-10-2006, 4 doanh nhân tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam gồm Lương Văn Can, Bạch Thái Bưởi, Trịnh Văn Bô, Nguyễn Sơn Hà đã được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam truy tặng danh hiệu Doanh nhân tiêu biểu và cúp Thánh Gióng. Chính cụ chính là người thầy của giới doanh thương Việt Nam.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét