TÍNH “XÃ HỘI HÓA” CỦA NGÀNH ĐIỆN
Điện tăng tăng giá từ ngày 1-3. Dư luận không mấy bất ngờ với quyết định này, bởi vì nó đã được lên lộ trình từ rất lâu rồi, chưa hẳn theo thực tế khách quan mà có thể phần nhiều do mong muốn chủ quan của ngành điện. Điều mà người tiêu thụ điện quan tâm hiện nay là liệu sau khi tăng giá rồi thì điện có đảm bảo hay không, tức là đảm bảo đủ điện, đảm bảo điện áp đủ mạnh để sinh hoạt, sản xuất, có đảm bảo là không bị cắt điện vô tội vạ không… Xem ra trả lời những câu hỏi này còn cần một “lộ trình” khác dài vô hạn định!
Trong điều kiện như vậy, Tập đoàn Điện lực Việt Nam cần phải tăng tính “xã hội hóa” để mở rộng nhiều đối tượng tham gia sản xuất điện, nhằm tăng sản lượng điện, giảm áp lực cho chính bản thân Tập đoàn.
Có được dự án lớn như Nhà máy điện than Duyên Hải (Trà Vinh) dĩ nhiên có góp được lượng điện đáng kể, nhưng cũng phải tiêu tốn quá nhiều vốn và cũng không thực sự bền vững, bởi đơn giản nhà máy này chỉ “chuyển từ năng lượng này sang năng lượng khác” mà thôi. Hay những nhà máy điện hạt nhân (dự kiến) sẽ có công suất lớn nhưng cần vốn lớn và cũng phải mất thời gian dài. Trước mắt, các nguồn cung cấp điện chủ yếu vẫn là thủy điện và nhiệt điện (từ gas thiên nhiên).
Nhưng không thể trông chờ vào những nhà máy có quy mô như thế. Ở từng địa phương, với điều kiện đặc thù của mình có thể sản xuất được điện với quy mô nhỏ, chi phí thấp. Ở vùng ven biển có thể sản xuất điện từ gió; ở vùng có nhiều nắng thì từ mặt trời; ở vùng có nhiều suối thì có thể lắp đặt các nhà máy thủy điện mini…
Tính “xã hội hóa” của ngành điện là bản thân ngành phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân cùng tham gia sản xuất điện theo điều kiện đặc thù của mình. Điện sản xuất được có thể sử dụng tại chỗ (phục vụ cho đơn vị), bán cho người dân hoặc chuyển vào hệ thống điện lưới quốc gia (với hình thức nào do các bên thỏa thuận, nhưng theo nguyên tắc có lợi cho 3 bên: ngành điện, đơn vị sản xuất và người sử dụng). Ngành điện phải hướng dẫn cách thức tổ chức sản xuất, xử lý, sử dụng điện để đảm bảo hiệu quả, an toàn.
Thực tế hiện nay, nhiều tổ chức, cá nhân đã tự sản xuất được điện, như dùng pin mặt trời, quạt gió, thủy điện mini, nhiệt điện từ các lò xử lý rác, phát điện từ biogas… Nhưng các hoạt động này còn mang tính nhỏ lẻ, chưa thành một bộ phận tích cực của ngành điện. Do đó, rất cần sự hỗ trợ của các ngành các cấp, trong đó có ngành điện, để hoạt động này ngày càng nâng cao sản lượng, chất lượng và hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội.
Xét cho cùng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, là một đơn vị doanh nghiệp nhà nước, phải có chức năng phục vụ cộng đồng, phục vụ nhân dân chứ không phải chỉ quan tâm yếu tố lời lãi. Trong yêu cầu phục vụ, bên cạnh Tập đoàn bán điện đủ điện cho người sử dụng với giá hợp lý (theo thỏa thuận) thì cũng rất cần sự định hướng, giúp đỡ để người sử dụng có thể tự sản xuất được điện, góp phần giảm giá thành sản xuất mà cũng giảm áp lực cho bản thân ngành điện.
Điện tăng tăng giá từ ngày 1-3. Dư luận không mấy bất ngờ với quyết định này, bởi vì nó đã được lên lộ trình từ rất lâu rồi, chưa hẳn theo thực tế khách quan mà có thể phần nhiều do mong muốn chủ quan của ngành điện. Điều mà người tiêu thụ điện quan tâm hiện nay là liệu sau khi tăng giá rồi thì điện có đảm bảo hay không, tức là đảm bảo đủ điện, đảm bảo điện áp đủ mạnh để sinh hoạt, sản xuất, có đảm bảo là không bị cắt điện vô tội vạ không… Xem ra trả lời những câu hỏi này còn cần một “lộ trình” khác dài vô hạn định!
Trong điều kiện như vậy, Tập đoàn Điện lực Việt Nam cần phải tăng tính “xã hội hóa” để mở rộng nhiều đối tượng tham gia sản xuất điện, nhằm tăng sản lượng điện, giảm áp lực cho chính bản thân Tập đoàn.
Có được dự án lớn như Nhà máy điện than Duyên Hải (Trà Vinh) dĩ nhiên có góp được lượng điện đáng kể, nhưng cũng phải tiêu tốn quá nhiều vốn và cũng không thực sự bền vững, bởi đơn giản nhà máy này chỉ “chuyển từ năng lượng này sang năng lượng khác” mà thôi. Hay những nhà máy điện hạt nhân (dự kiến) sẽ có công suất lớn nhưng cần vốn lớn và cũng phải mất thời gian dài. Trước mắt, các nguồn cung cấp điện chủ yếu vẫn là thủy điện và nhiệt điện (từ gas thiên nhiên).
Nhưng không thể trông chờ vào những nhà máy có quy mô như thế. Ở từng địa phương, với điều kiện đặc thù của mình có thể sản xuất được điện với quy mô nhỏ, chi phí thấp. Ở vùng ven biển có thể sản xuất điện từ gió; ở vùng có nhiều nắng thì từ mặt trời; ở vùng có nhiều suối thì có thể lắp đặt các nhà máy thủy điện mini…
Tính “xã hội hóa” của ngành điện là bản thân ngành phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân cùng tham gia sản xuất điện theo điều kiện đặc thù của mình. Điện sản xuất được có thể sử dụng tại chỗ (phục vụ cho đơn vị), bán cho người dân hoặc chuyển vào hệ thống điện lưới quốc gia (với hình thức nào do các bên thỏa thuận, nhưng theo nguyên tắc có lợi cho 3 bên: ngành điện, đơn vị sản xuất và người sử dụng). Ngành điện phải hướng dẫn cách thức tổ chức sản xuất, xử lý, sử dụng điện để đảm bảo hiệu quả, an toàn.
Thực tế hiện nay, nhiều tổ chức, cá nhân đã tự sản xuất được điện, như dùng pin mặt trời, quạt gió, thủy điện mini, nhiệt điện từ các lò xử lý rác, phát điện từ biogas… Nhưng các hoạt động này còn mang tính nhỏ lẻ, chưa thành một bộ phận tích cực của ngành điện. Do đó, rất cần sự hỗ trợ của các ngành các cấp, trong đó có ngành điện, để hoạt động này ngày càng nâng cao sản lượng, chất lượng và hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội.
Xét cho cùng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, là một đơn vị doanh nghiệp nhà nước, phải có chức năng phục vụ cộng đồng, phục vụ nhân dân chứ không phải chỉ quan tâm yếu tố lời lãi. Trong yêu cầu phục vụ, bên cạnh Tập đoàn bán điện đủ điện cho người sử dụng với giá hợp lý (theo thỏa thuận) thì cũng rất cần sự định hướng, giúp đỡ để người sử dụng có thể tự sản xuất được điện, góp phần giảm giá thành sản xuất mà cũng giảm áp lực cho bản thân ngành điện.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét