CHÚ TRỌNG LỢI THẾ SO SÁNH ĐỂ TĂNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
Người Việt ta lâu nay có tâm lý “thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào”, thường gây ra nhiều hệ lụy nguy hiểm. Khi cà phê có giá thì nơi nào cũng trồng, bất kể thổ nhưỡng có phù hợp, nguồn nước có đảm bảo, năng suất ra sao, đầu ra thế nào… Khi tôm sú “lên ngôi”, người ta bỏ cả lúa, cả vườn, phá cả rừng bơm nước mặn vào để nuôi cho bằng được. Khi lúa có giá, nhiều vườn tràm, vườn cây ăn trái lập tức bị chặt bỏ để trồng lúa. Hồi chứng khoán còn “xanh” liên tục, nhiều người không rành về cổ phiếu cũng cầm nhà bán đất để nhảy lên sàn... Những kiểu làm ăn theo phong trào này diễn ra thường xuyên, hết nơi này đến nơi khác mà ít thấy sự định hướng, uốn nắn, rút kinh nghiệm. Qua khỏi đỉnh cao ngắn ngủi, khó khăn kéo dài triền miên, không chỉ cho chính người sản xuất, kinh doanh mà còn ảnh hưởng chung đến nhiều người khác.
Xét những ưu thế đặc thù trong điều kiện cụ thể của mình để chọn sản xuất, kinh doanh loại hàng hóa gì chính là đã chú trọng lợi thế so sánh. Làm được điều này là góp phần quan trọng vào việc giảm giá thành sản phẩm, từ đó có thể tăng lợi nhuận hoặc giảm giá bán để tăng tính cạnh tranh. Chẳng hạn, ở vùng nước ngọt mà nuôi tôm sú thì chắc chắn sẽ phải đầu tư nhiều hơn vùng nước mặn, do phải tốn chi phí khoan giếng tìm nguồn nước mặn, chi phí xử lý nước…
Trên thực tế, lợi thế so sánh không phải là bất biến mà luôn thay đổi, theo sự thay đổi chung của xã hội. Có những sản phẩm trước đây địa phương này sản xuất là có ưu thế cạnh tranh nhưng thời gian sau lại chuyển đến địa phương khác. Chẳng hạn, các ngành dệt may, giày da, trước đây được nhiều thành phố lớn khuyến khích đầu tư do tận dụng công nghệ, nhà máy của các thành phố đạt trình độ cao hơn so với mặt bằng chung và nhất là nguồn công nhân giá rẻ. Tuy nhiên, hiện nay, với chi phí đắt đỏ tại các đô thị, giá nhân công cũng không còn rẻ nữa; do đó các ngành công nghiệp này dần chuyển về các tỉnh để sử dụng lao động tại chỗ. Hoặc cùng một địa phương, nhưng với những hàng hóa khác nhau thì tính ưu thế cũng khác nhau. Trước đây, một số tỉnh Tây Nguyên phát triển ngành trồng dâu nuôi tằm và đẩy mạnh ngành tơ tằm. Tuy nhiên, với đặc thù đất vùng này khá màu mỡ nên nhiều địa phương đã chuyển từ đất trồng dâu sang đất trồng các loại cây công nghiệp khác như trà, cà phê… có hiệu quả kinh tế hơn. Như vậy, việc kịp thời thay đổi cơ cấu, định hướng sản xuất, kinh doanh cho phù hợp với lợi thế so sánh là góp phần làm tăng năng suất và hiệu quả.
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, nâng cao khả năng cạnh tranh là một trong những đòi hỏi sống còn của các doanh nghiệp và có ý nghĩa quan trọng để phát triển của mỗi địa phương, thậm chí của một đất nước. Thậm chí có thể nói đến cụm từ “cạnh tranh sinh tồn” như trong tự nhiên. Dù vậy, “cạnh tranh sinh tồn” không có nghĩa là một mất một còn mà sẽ ngày càng đi vào thế “cần có nhau” để tồn tại mang tính hệ thống (dây chuyền), không loại trừ nhau nhưng sự triệt tiêu một cá thể đồng dạng sẽ giúp những cá thể khác tồn tại tốt hơn. Do đó, mỗi cá thể phải thích nghi một cách tốt nhất trong môi trường sống của mình, phát huy một cách tối đa ưu thế của mình, đồng thời giảm thiểu những hạn chế, khuyết điểm vốn có.
Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp, mỗi địa phương cần xác định rõ đâu là ưu thế của mình để không ngừng phát huy, đâu là hạn chế của mình để khắc phục. Trong quá trình hoạt động, phát triển, cần nghiên cứu để phát hiện, tìm ra những ưu thế mới phù hợp hơn cũng như giảm thiểu những bất lợi mới phát sinh. Phải khắc phục cho được tư tưởng làm ăn theo kiểu “phong trào”, không phù hợp năng lực, sở trường của mình cũng như không có tính lợi thế so sánh. Mỗi doanh nghiệp, địa phương cần có chiến lược phát triển dựa trên lợi thế của mình, trong đó cần có những mũi nhọn làm đầu tàu – là những ngành, những hàng hóa có lợi thế so sánh tốt nhất.
Cạnh tranh là thực tế không thể tránh khỏi. Nhưng lợi thế so sánh cũng cũng là điều có thật và mang tính đặc thù của từng địa phương, doanh nghiệp. Do đó, nắm bắt được lợi thế để cạnh tranh sòng phẳng thì mới đẩy mạnh khả năng phát triển.
Người Việt ta lâu nay có tâm lý “thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào”, thường gây ra nhiều hệ lụy nguy hiểm. Khi cà phê có giá thì nơi nào cũng trồng, bất kể thổ nhưỡng có phù hợp, nguồn nước có đảm bảo, năng suất ra sao, đầu ra thế nào… Khi tôm sú “lên ngôi”, người ta bỏ cả lúa, cả vườn, phá cả rừng bơm nước mặn vào để nuôi cho bằng được. Khi lúa có giá, nhiều vườn tràm, vườn cây ăn trái lập tức bị chặt bỏ để trồng lúa. Hồi chứng khoán còn “xanh” liên tục, nhiều người không rành về cổ phiếu cũng cầm nhà bán đất để nhảy lên sàn... Những kiểu làm ăn theo phong trào này diễn ra thường xuyên, hết nơi này đến nơi khác mà ít thấy sự định hướng, uốn nắn, rút kinh nghiệm. Qua khỏi đỉnh cao ngắn ngủi, khó khăn kéo dài triền miên, không chỉ cho chính người sản xuất, kinh doanh mà còn ảnh hưởng chung đến nhiều người khác.
Xét những ưu thế đặc thù trong điều kiện cụ thể của mình để chọn sản xuất, kinh doanh loại hàng hóa gì chính là đã chú trọng lợi thế so sánh. Làm được điều này là góp phần quan trọng vào việc giảm giá thành sản phẩm, từ đó có thể tăng lợi nhuận hoặc giảm giá bán để tăng tính cạnh tranh. Chẳng hạn, ở vùng nước ngọt mà nuôi tôm sú thì chắc chắn sẽ phải đầu tư nhiều hơn vùng nước mặn, do phải tốn chi phí khoan giếng tìm nguồn nước mặn, chi phí xử lý nước…
Trên thực tế, lợi thế so sánh không phải là bất biến mà luôn thay đổi, theo sự thay đổi chung của xã hội. Có những sản phẩm trước đây địa phương này sản xuất là có ưu thế cạnh tranh nhưng thời gian sau lại chuyển đến địa phương khác. Chẳng hạn, các ngành dệt may, giày da, trước đây được nhiều thành phố lớn khuyến khích đầu tư do tận dụng công nghệ, nhà máy của các thành phố đạt trình độ cao hơn so với mặt bằng chung và nhất là nguồn công nhân giá rẻ. Tuy nhiên, hiện nay, với chi phí đắt đỏ tại các đô thị, giá nhân công cũng không còn rẻ nữa; do đó các ngành công nghiệp này dần chuyển về các tỉnh để sử dụng lao động tại chỗ. Hoặc cùng một địa phương, nhưng với những hàng hóa khác nhau thì tính ưu thế cũng khác nhau. Trước đây, một số tỉnh Tây Nguyên phát triển ngành trồng dâu nuôi tằm và đẩy mạnh ngành tơ tằm. Tuy nhiên, với đặc thù đất vùng này khá màu mỡ nên nhiều địa phương đã chuyển từ đất trồng dâu sang đất trồng các loại cây công nghiệp khác như trà, cà phê… có hiệu quả kinh tế hơn. Như vậy, việc kịp thời thay đổi cơ cấu, định hướng sản xuất, kinh doanh cho phù hợp với lợi thế so sánh là góp phần làm tăng năng suất và hiệu quả.
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, nâng cao khả năng cạnh tranh là một trong những đòi hỏi sống còn của các doanh nghiệp và có ý nghĩa quan trọng để phát triển của mỗi địa phương, thậm chí của một đất nước. Thậm chí có thể nói đến cụm từ “cạnh tranh sinh tồn” như trong tự nhiên. Dù vậy, “cạnh tranh sinh tồn” không có nghĩa là một mất một còn mà sẽ ngày càng đi vào thế “cần có nhau” để tồn tại mang tính hệ thống (dây chuyền), không loại trừ nhau nhưng sự triệt tiêu một cá thể đồng dạng sẽ giúp những cá thể khác tồn tại tốt hơn. Do đó, mỗi cá thể phải thích nghi một cách tốt nhất trong môi trường sống của mình, phát huy một cách tối đa ưu thế của mình, đồng thời giảm thiểu những hạn chế, khuyết điểm vốn có.
Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp, mỗi địa phương cần xác định rõ đâu là ưu thế của mình để không ngừng phát huy, đâu là hạn chế của mình để khắc phục. Trong quá trình hoạt động, phát triển, cần nghiên cứu để phát hiện, tìm ra những ưu thế mới phù hợp hơn cũng như giảm thiểu những bất lợi mới phát sinh. Phải khắc phục cho được tư tưởng làm ăn theo kiểu “phong trào”, không phù hợp năng lực, sở trường của mình cũng như không có tính lợi thế so sánh. Mỗi doanh nghiệp, địa phương cần có chiến lược phát triển dựa trên lợi thế của mình, trong đó cần có những mũi nhọn làm đầu tàu – là những ngành, những hàng hóa có lợi thế so sánh tốt nhất.
Cạnh tranh là thực tế không thể tránh khỏi. Nhưng lợi thế so sánh cũng cũng là điều có thật và mang tính đặc thù của từng địa phương, doanh nghiệp. Do đó, nắm bắt được lợi thế để cạnh tranh sòng phẳng thì mới đẩy mạnh khả năng phát triển.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét