Thứ Ba, 19 tháng 5, 2009

Thời sự và suy nghĩ

Đề án học phí bậc học phổ thông mới chưa thuyết phục!
Vấn đề tăng học phí nói chung và ở bậc phổ thông công lập nói riêng được dư luận cho rằng chỉ là chuyện sớm muộn. Rõ ràng ngành giáo dục đang phải vất vả kham một khoản kinh phí lớn cho hoạt động mà ngân sách nhà nước trước mắt chưa đáp ứng nổi. Vì vậy, cần có sự chung tay, góp sức của toàn xã hội, thông qua nhiều cách, như lâu nay vẫn gọi là xã hội hóa giáo dục và cụ thể nhất là thông qua học phí.
Thế nhưng học phí tăng bao nhiêu là hợp lý thì phải bàn nhiều. Đề án của Chính phủ trình Quốc hội xem xét (thực chất do Bộ Giáo dục – Đào tạo soạn thảo) có nêu cái “trần” là không quá 6% thu nhập bình quân của hộ gia đình ở từng vùng khác nhau. Chính cái “trần” này đã thể hiện sự mơ hồ, không thuyết phục. “Không quá 6%” vậy là bao nhiêu, 3%, 4% hay 5,9999%? Điều này sẽ tạo ra sự không nhất quán trong vận dụng, vì đặc thù mỗi địa phương khác nhau chắc chắn sẽ cách tính khác nhau. Với một đề án mang tính chính thức, áp dụng cho cả nước, chứ không phải thí điểm, nhưng lại được áp dụng mỗi nơi một kiểu thì có nên chăng?
Hơn nữa, đề án nêu ra mức học phí mới “không quá 6% thu nhập bình quân của hộ gia đình ở từng khu vực khác nhau” nhưng liệu đã có thống kê chính thức nào phản ánh thu nhập bình quân của hộ gia đình một cách chính xác chưa? Nếu không có thống kê chính thức thì lấy gì làm căn cứ để nêu ra con số tuyệt đối của con số tương đối “không quá 6%”? Trên thực tế, lâu nay, vẫn tồn tại những thống kê “thu nhập bình quân đầu người” trên cơ sở chia tổng thu nhập quốc nội (GDP) cho tổng số dân. Theo đó, năm 2008, thu nhập bình quân của nước ta đạt trên ngưỡng 1.000 USD; ở TP.HCM thì trên 2.000 USD. Tuy nhiên, con số này bao gồm cả nhiều hoạt động đầu tư của toàn xã hội (tính trên cả nước hoặc của một địa phương cụ thể, chứ không chỉ tính trên thu nhập thực tế của các hộ dân). Như vậy, thu nhập thực tế của các hộ gia đình sẽ thấp hơn nhiều so với tổng GDP bình quân của từng thành viên trong hộ gia đình cộng lại (đó là chưa kể có những thành viên không có thu nhập nhưng vẫn được tính bổ đồng). Do đó, căn cứ vào đâu để đưa ra mức thu học phí cho từng địa phương, hay mỗi tỉnh thành phải tự điều tra xem các hộ trên địa bàn mình có thu nhập bao nhiêu? Ngay cả khi có cuộc điều tra đó thì tính chính thức (cả tính hợp pháp) phải được xác định như thế nào?
Không chỉ vậy, kể cả khi có được con số thu nhập bình quân của hộ gia đình từng địa phương thì đâu có nghĩa là hộ nào cũng có cùng thu nhập đó, mà sẽ có hộ cao hơn và thấp hơn. Nhà nước đã có chủ trương miễn giảm học phí cho các hộ thuộc diện xóa đói giảm nghèo (ngay cả các chuẩn này ở từng tỉnh thành hiện đã không giống nhau rồi), hộ chính sách, hộ cận nghèo, nhưng còn hộ trên các chuẩn đó nhưng dưới mức thu nhập bình quân thì sao? Chẳng lẽ họ cũng phải trả học phí như những hộ có thu nhập cao hơn mức bình quân nhiều lần? Đây là điều làm cho tính tiến bộ của đề án (chấp nhận các mức học phí khác nhau, tùy thuộc vào những khu vực khác nhau, có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau) có gì đó trở nên mâu thuẫn.
Đó là chưa kể, với mức thu học phí khác nhau chắc chắn phải trả thù lao cho giáo viên khác nhau, lại tạo ra những cách biệt không tốt trong thu nhập của giáo viên ở các vùng khác nhau.
Chính vì vậy, đề án học phí bậc phổ thông mới dường như còn có nhiều “khoảng trống” mà những người soạn thảo chưa lường hết được.
Chế độ ta phải thể hiện những nét ưu việt so với các xã hội khác, nhất là trong lĩnh vực y tế, giáo dục…, dù trong điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Nên chăng, ở tầm chính phủ nên ấn định một tỉ lệ ngân sách giáo dục nhất định cho giáo dục (chẳng hạn 20% GDP), nhưng không nhất thiết phân bổ đồng đều cho các địa phương (dựa trên số lượng học sinh), mà sẽ dành tỉ lệ nhiều hơn cho những tỉnh khó khăn, bên cạnh phần của tỉnh tự trang trải (cũng với một tỉ lệ ngân sách nhất định dành cho giáo dục của tỉnh đó). Như vậy sẽ phần nào tạo ra sự bình đẳng của học sinh giữa các tỉnh thành. Còn với mức học phí cụ thể, nên có sự thống nhất (tương đối) và nên đưa ra con số tuyệt đối có giới hạn (ví dụ ở bậc trung học phổ thông, có thể là 60.000 – 80.000đ/học sinh/tháng thì ở khu vực nào được thu 60.000, nơi nào thu 70.000đ, nơi nào được thu 80.000đ, tùy vào điều kiện cụ thể của từng khu vực).
Hiện nay, sự chênh lệch về giàu nghèo ở nước ta có xu hướng ngày càng giãn ra. Do đó, ở cấp vĩ mô cần có những chính sách để kéo giảm khoảng cách đó, chứ không nên tạo ra thêm những sự chênh lệch khác, nhất là trong giáo dục.
Bài đã đăng báo Sài Gòn giải phóng ngày 15-5-2009

Không có nhận xét nào: