NGƯỜI XA QUÊ
Trong Thương nhớ mười hai, nhà văn Vũ Bằng viết: “Lòng người xa nhà y như thể là khúc gỗ bị mối ăn, mục nát từ lúc nào không biết. Trông bề ngoài thì không có gì khác lạ, nhưng cầm một cánh hoa khẽ đập vào thử mà xem: tiếng gỗ kêu nghe mệt mỏi, u buồn, mà nếu gõ mạnh thêm chút nữa, ta sẽ thấy gỗ vỡ tan, để lộ ra những tảng mục lỗ chỗ như tổ ong, tiết ra một thứ bụi vàng hanh hao, nhạt nhẽo. Con tim của người khách tương tư cố lý cũng đau ốm y như là gỗ mục”.
Đọc đến đây, bỗng nhiên tôi không thể đọc được nữa. Ngồi thừ ra, ôm lấy quyển sách, lòng xao động với muôn vàn con sóng. Tôi đang nhớ quê, nói theo cách của Vũ Bằng, đó là nhớ nhà.
Tôi xa quê năm mười ba tuổi. Đấy là cái tuổi bắt đầu lớn, bắt đầu nhận thức được những điều xung quanh một cách tương đối đầy đủ. Ở cái tuổi ấy, những gì đọng lại trong tâm trí giống như một chiếc máy ghi âm, ghi lại đầy đủ những gì nó nhận ra, nhưng rối bời, chẳng biết âm chính, tạp âm là gì nữa.
Tha hương qua nhiều xứ, mỗi nơi có những nét đặc trưng riêng, đôi lúc tôi tìm thấy hình ảnh quê hương của mình trong ấy. Nhưng tất cả đều nhòa nhạt, chỉ là những mảnh vụn lắp ghép lại một cách vụng về với nhau, chẳng ra hình thù gì cả. Này nhé, cũng dòng kinh trong xanh, thì những dòng kinh bất kỳ nào đó lại thiếu cái ụ xuồng quen thuộc, thiếu cả bờ sậy xanh rì; cũng những cánh đồng, thì những cánh đồng ấy lại thiếu đám cỏ lông heo màu cỏ úa, thiếu luôn đám chim ba kiến ẩn trong các gốc rạ kiếm ăn trong mùa nước kém; cũng những vườn dừa, thì những vườn dừa ấy thiếu một cây dừa lửa thấp lè tè luôn sai trái, thiếu cả những cái tổ chim sẻ lủng lẳng… Tất cả đều có, vậy mà tất cả đều thiếu. Không chỉ vậy, ở đâu cũng có người, nhưng người ở quê tôi không chỉ có vẻ chất phác mà còn mang những nét riêng chẳng lẫn vào đâu được. Đôi chân đóng phèn, mái tóc luôn có chòm ngọn hoe nắng, tiếng nói rổn rảng nhưng bao giờ cũng phát âm sai vài chữ, đại loại như “cừ” (cười), “cái gổ” (cái rổ)… Đó những gì thân thuộc, gần gũi với tôi trong những ngày thơ ấu.
Quê hương gắn với mỗi năm hai mùa mưa nắng. Mùa nắng (mùa khô), gió nồm thổi khô ran. Đất nẻ ra toang hoác. Mấy con nước liền, dòng kinh thiếu phù sa nên trong xanh, có lúc nước ròng kiệt cạn sát đáy. Bù mắt cắn điên người. Mùa mưa, nước trắng đồng, đường đất thịt trơn như đổ mỡ. Dòng kinh ngầu đục, chảy xiết. Đám sậy mọc sát bờ kinh cũng như run rẩy. Bữa nào bên ngoài giông, chỉ thèm nằm ủ trong mền, nghe tiếng mưa tí tách đổ trên mái lá, miệng ngậm hột me rang thơm lừng, chờ hột me mềm ra rồi lại ngậm hạt khác….
Khi ra trường, có việc làm, mỗi năm tôi luôn về quê dịp giỗ ngoại. Người mất khi tôi chưa đến mười tuổi, nhưng với quê, ngoại và những gì gắn với người là hình ảnh sâu đậm nhất. Đó mấy cây vú sữa trước sân nhà già như tuổi của ngoại. Đó giàn trầu không lúc não cũng tươi tốt, làm chỗ trú ngụ cho một bầy cóc tía mập bự. Đó là những mẻ nếp rang nổ lép bép giữa buổi chiều đổ mưa bốc khói thơm phức. Đó là những con ốc bươu to bằng nắm tay trẻ con luộc chấm cơm mẻ với sả bằm ngon tuyệt. Đó những buổi chiều cùng ngoại đi nhặt phân trâu trên mấy cánh đồng khô nức nẻ về đốt vỏ ngao lấy vôi ăn trầu. Đó là những tiếng “chửi chó mắng mèo” quen thuộc mỗi khi tôi làm điều không phải với ngoại không lẫn với ai được. Đó là hình ảnh của một bà cụ tóc hạc da mồi, răng rụng gần hết vẫn móm mém nhai trầu nhớ về người chồng và hai người con trai mất trong kháng chiến… Bởi vậy đi đâu, bắt gặp lại những góc cạnh của các hình ảnh đó, lòng người xa quê như tôi tưởng như sống lại thời niên thiếu ở quê nhà yêu dấu.
Bữa rồi, ông bác họ của tôi đi Mỹ về kể: Ở bên đó, điều lạ nhất là Việt kiều họ quý đồng bào mình sang lắm! Rồi ông say sưa kể những câu chuyện để minh họa cho nhận định đó. Tôi nghe mà lòng tự bảo: Kẻ xa quê thì lúc nào cũng vậy thôi!
Lớn lên, đi nhiều nơi, tôi nhận ra rằng, mỗi người Việt Nam đều có những quê hương của mình. Nói “những”, bởi vì trước hết đó là nơi ta sinh ra và lớn lên, gắn liền với xã làng ở một miền quê nào đó, như tôi lúc nào cũng canh cánh nỗi nhớ về quê hương xứ dừa của mình. Kế đó, là vùng miền mà mình từng sinh sống, vùng miền Tây, miền Đông, Tây Nguyên, miền Trung hay miền Bắc… Rồi khi ra nước ngoài, quê hương trở nên lớn hơn nhiều, đó chính là đất mẹ Việt Nam cong cong hình chỉ S cang cường qua bao biến cổ lịch sử. Chính những quê hương ấy là quê cha đất tổ, là nơi “chôn nhau cắt rốn” với những đất lề quê thói, những lệ tục, những di sản của cha ông để lại. Bởi vậy, người xa quê nào cũng thương, cũng nhớ về quê hương của mình bằng những tình cảm nồng nàn sâu đậm. Trên hết, chính là tình yêu nước đã được hun đúc ngàn đời.
Trong Thương nhớ mười hai, nhà văn Vũ Bằng viết: “Lòng người xa nhà y như thể là khúc gỗ bị mối ăn, mục nát từ lúc nào không biết. Trông bề ngoài thì không có gì khác lạ, nhưng cầm một cánh hoa khẽ đập vào thử mà xem: tiếng gỗ kêu nghe mệt mỏi, u buồn, mà nếu gõ mạnh thêm chút nữa, ta sẽ thấy gỗ vỡ tan, để lộ ra những tảng mục lỗ chỗ như tổ ong, tiết ra một thứ bụi vàng hanh hao, nhạt nhẽo. Con tim của người khách tương tư cố lý cũng đau ốm y như là gỗ mục”.
Đọc đến đây, bỗng nhiên tôi không thể đọc được nữa. Ngồi thừ ra, ôm lấy quyển sách, lòng xao động với muôn vàn con sóng. Tôi đang nhớ quê, nói theo cách của Vũ Bằng, đó là nhớ nhà.
Tôi xa quê năm mười ba tuổi. Đấy là cái tuổi bắt đầu lớn, bắt đầu nhận thức được những điều xung quanh một cách tương đối đầy đủ. Ở cái tuổi ấy, những gì đọng lại trong tâm trí giống như một chiếc máy ghi âm, ghi lại đầy đủ những gì nó nhận ra, nhưng rối bời, chẳng biết âm chính, tạp âm là gì nữa.
Tha hương qua nhiều xứ, mỗi nơi có những nét đặc trưng riêng, đôi lúc tôi tìm thấy hình ảnh quê hương của mình trong ấy. Nhưng tất cả đều nhòa nhạt, chỉ là những mảnh vụn lắp ghép lại một cách vụng về với nhau, chẳng ra hình thù gì cả. Này nhé, cũng dòng kinh trong xanh, thì những dòng kinh bất kỳ nào đó lại thiếu cái ụ xuồng quen thuộc, thiếu cả bờ sậy xanh rì; cũng những cánh đồng, thì những cánh đồng ấy lại thiếu đám cỏ lông heo màu cỏ úa, thiếu luôn đám chim ba kiến ẩn trong các gốc rạ kiếm ăn trong mùa nước kém; cũng những vườn dừa, thì những vườn dừa ấy thiếu một cây dừa lửa thấp lè tè luôn sai trái, thiếu cả những cái tổ chim sẻ lủng lẳng… Tất cả đều có, vậy mà tất cả đều thiếu. Không chỉ vậy, ở đâu cũng có người, nhưng người ở quê tôi không chỉ có vẻ chất phác mà còn mang những nét riêng chẳng lẫn vào đâu được. Đôi chân đóng phèn, mái tóc luôn có chòm ngọn hoe nắng, tiếng nói rổn rảng nhưng bao giờ cũng phát âm sai vài chữ, đại loại như “cừ” (cười), “cái gổ” (cái rổ)… Đó những gì thân thuộc, gần gũi với tôi trong những ngày thơ ấu.
Quê hương gắn với mỗi năm hai mùa mưa nắng. Mùa nắng (mùa khô), gió nồm thổi khô ran. Đất nẻ ra toang hoác. Mấy con nước liền, dòng kinh thiếu phù sa nên trong xanh, có lúc nước ròng kiệt cạn sát đáy. Bù mắt cắn điên người. Mùa mưa, nước trắng đồng, đường đất thịt trơn như đổ mỡ. Dòng kinh ngầu đục, chảy xiết. Đám sậy mọc sát bờ kinh cũng như run rẩy. Bữa nào bên ngoài giông, chỉ thèm nằm ủ trong mền, nghe tiếng mưa tí tách đổ trên mái lá, miệng ngậm hột me rang thơm lừng, chờ hột me mềm ra rồi lại ngậm hạt khác….
Khi ra trường, có việc làm, mỗi năm tôi luôn về quê dịp giỗ ngoại. Người mất khi tôi chưa đến mười tuổi, nhưng với quê, ngoại và những gì gắn với người là hình ảnh sâu đậm nhất. Đó mấy cây vú sữa trước sân nhà già như tuổi của ngoại. Đó giàn trầu không lúc não cũng tươi tốt, làm chỗ trú ngụ cho một bầy cóc tía mập bự. Đó là những mẻ nếp rang nổ lép bép giữa buổi chiều đổ mưa bốc khói thơm phức. Đó là những con ốc bươu to bằng nắm tay trẻ con luộc chấm cơm mẻ với sả bằm ngon tuyệt. Đó những buổi chiều cùng ngoại đi nhặt phân trâu trên mấy cánh đồng khô nức nẻ về đốt vỏ ngao lấy vôi ăn trầu. Đó là những tiếng “chửi chó mắng mèo” quen thuộc mỗi khi tôi làm điều không phải với ngoại không lẫn với ai được. Đó là hình ảnh của một bà cụ tóc hạc da mồi, răng rụng gần hết vẫn móm mém nhai trầu nhớ về người chồng và hai người con trai mất trong kháng chiến… Bởi vậy đi đâu, bắt gặp lại những góc cạnh của các hình ảnh đó, lòng người xa quê như tôi tưởng như sống lại thời niên thiếu ở quê nhà yêu dấu.
Bữa rồi, ông bác họ của tôi đi Mỹ về kể: Ở bên đó, điều lạ nhất là Việt kiều họ quý đồng bào mình sang lắm! Rồi ông say sưa kể những câu chuyện để minh họa cho nhận định đó. Tôi nghe mà lòng tự bảo: Kẻ xa quê thì lúc nào cũng vậy thôi!
Lớn lên, đi nhiều nơi, tôi nhận ra rằng, mỗi người Việt Nam đều có những quê hương của mình. Nói “những”, bởi vì trước hết đó là nơi ta sinh ra và lớn lên, gắn liền với xã làng ở một miền quê nào đó, như tôi lúc nào cũng canh cánh nỗi nhớ về quê hương xứ dừa của mình. Kế đó, là vùng miền mà mình từng sinh sống, vùng miền Tây, miền Đông, Tây Nguyên, miền Trung hay miền Bắc… Rồi khi ra nước ngoài, quê hương trở nên lớn hơn nhiều, đó chính là đất mẹ Việt Nam cong cong hình chỉ S cang cường qua bao biến cổ lịch sử. Chính những quê hương ấy là quê cha đất tổ, là nơi “chôn nhau cắt rốn” với những đất lề quê thói, những lệ tục, những di sản của cha ông để lại. Bởi vậy, người xa quê nào cũng thương, cũng nhớ về quê hương của mình bằng những tình cảm nồng nàn sâu đậm. Trên hết, chính là tình yêu nước đã được hun đúc ngàn đời.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét