CON GỌI BA THƯA!
1. Hồi nhỏ, khi tôi vừa biết nói, mỗi lần gọi “Ba ơi!”, ba tôi đều “Dạ”. Có người thấy “kỳ”, bảo: “Con gọi là “dạ” thì làm sao dạy nó được?”. Thực ra đó là cách dạy con của ba tôi và anh em chúng tôi đều hiểu rằng, ba đã dạ với mình thì mình hẳn nhiên phải dạ khi ba hoặc người lớn gọi!
Không phải là một triết lý mà là một phương thức ứng xử, một cách sống. Nhờ sự nghiêm khắc và đúng mực của ba, gia đình tôi chưa bao giờ có tiếng gọi “mày tao”, kể cả lúc ba mẹ giận hay la mắng anh em chúng tôi, cũng như giữa anh em với nhau. Ba mẹ tôi là nông dân không quen xưng “anh, em” với nhau nhưng cũng không bao giờ gọi là “mày tao”. Em thì gọi anh chị bằng thứ của anh (chị) chứ không gọi tên; anh chị thì gọi em bằng tên hoặc bằng “em” và xưng là anh (chị).
Sau này, ba mẹ tôi có dâu, rể, truyền thống đó vẫn được giữ tốt. Nói là “gia phong” như kiểu gia đình trí thức hay quyền quý thì không phải, nhưng tôi thấy gia đình mình vẫn có “nếp nhà” đúng nghĩa, mà những nhà khác có những điểm không hoàn toàn giống.
2. Con gái tôi biết nói từ lúc 18 tháng tuổi. Những câu đầu tiên tôi chú ý dạy cháu là “thưa”, “ạ”, “cảm ơn”, ngoài những câu mà đứa trẻ nào cũng gọi, như “ba ơi”, “mẹ ơi”… Sau mỗi lời “thưa”, “ạ”, “cảm ơn”, tôi tập cháu phải khoanh tay và cúi đầu. Tôi cũng tự tập cho mình phải “dạ” khi con trẻ gọi. Ở nhà trẻ, mỗi buổi tôi đến đón, thông thường, cháu mừng quá chạy ào ra ôm lấy tôi nhưng khi được nhắc lại “thưa cô” thì cháu luôn đến bên cô giáo vòng tay thưa rất lễ phép. Có bữa, chỉ cần tôi liếc mắc sang cô giáo thì cháu đã hiểu phải chào cô trước khi ra về, sau đó mới thưa tôi. Thậm chí có bữa, vì cô giáo bận nói chuyện với người khác, con bé cũng kiên nhẫn đứng chờ khi cô nhìn đến mình thì cháu mới chịu chào. (Về khoản thưa gửi này, con tôi ngoan hơn tôi lúc nhỏ. Ba tôi kể có lần, vì tôi không chịu thưa bà ngoại về, ba đã đánh đòn tôi một trận nên thân, mặc cho bà ngoài thương cháu hết lời xin giúp!) Đây là điều mà tôi học được từ ba mẹ.
Mới đây, khi xem quảng cáo về một loại bột nêm, thấy đứa trẻ mặc áo dài khăn đóng đang khoanh tay cúi đầu chúc tết ông bà, tôi thấy đó là một quảng cáo rất hay, hình ảnh thật đẹp và ấn tượng. Nhà tiếp thị đã nắm được tâm lý tôn trọng truyền thống của đa số khán giả xem truyền hình để đưa ra một hình ảnh có tính điển hình đồng thời gợi lại trách nhiệm về lễ nghĩa. Tôi nghĩ rằng, những loại quảng cáo như thế này sẽ dễ đọng lại trong lòng người xem.
3. Tôi nhớ mãi hình ảnh nhà văn Sơn Nam khoanh tay và cúi đầu chào mấy trăm sinh viên tại hội trường lớn của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cách đây gần chục năm. Dường như tất cả sinh viên ở đó đều quá bất ngờ với hành động mang đậm chất lễ nghĩa của “ông già Nam bộ” nên… không có biểu hiện đáp lễ đúng mực. Hôm đó, nhà văn Sơn Nam đến nói chuyện với sinh viên báo chí về hoạt động làm báo ở Sài Gòn trước năm 1975. Nói thực, câu chuyện của nhà văn khá tản mạn nên không thu hút được sinh viên lắm (chúng tôi hồi ấy vẫn thích đọc sách của ông hơn!). Bởi vậy, hình ảnh nhà văn Sơn Nam vòng tay cúi chào đã đọng lại trong tôi rất sâu đậm.
4. Ông bà ta có câu "Tiếng chào cao hơn mâm cỗ" khẳng định tiếng chào có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống giao tiếp hàng ngày. Đối với trẻ con, tiếng chào thường cũng là một trong những lời nói được cha mẹ, ông bà dạy rất sớm, chỉ sau tiếng "ba, mẹ".
Đầu tiên là tiếng "ạ" kèm theo cái gật đầu. Lúc mới biết nói, trẻ chưa thể phân biệt được ý nghĩa của cái gật đầu hay lắc đầu, cũng như chưa biết thế nào là lễ phép, vô phép. Nhưng bằng việc tập cho trẻ biết cúi đầu "ạ" trước một người khác tức là đã tạo cho trẻ có một thói quen. Đó cũng là điều lễ phép đầu tiên mà trẻ học được. Tiếp theo sau đó, là tiếng thưa, tiếng dạ, lời cảm ơn, lời xin lỗi, cái vòng tay cúi đầu…, tất cả nếu được dạy dỗ, uốn nắn, kềm cặp một cách cẩn thận sẽ giúp trẻ trở nên lễ phép, ngoan ngoãn, biết cung kính với người lớn.
Trong ngôn ngữ giao tiếp của tiếng Việt, chữ "chào" và "thưa" không phải lúc nào cũng có nghĩa tương tự nhau. "Thưa" có hàm ý kính trọng dành cho người trên trước, "chào" mang nghĩa trung tính, có thể dùng cho nhiều đối tượng hơn. Vì vậy có thể nói "chào bạn" và nên nói "thưa ông", chẳng hạn "thưa ông nội mới tới", "thưa ba con đi học mới về"… Khi trẻ đã được dạy cách chào hỏi như thế rồi thì dù bảo rằng "con chào ông rồi về!" thì trẻ cũng sẽ nói rằng "thưa ông con về!".
Tiếng chào có thể xem là một trong những mực trong thước đo tính “lễ”, tính “văn hóa” của mỗi người. Chính vì vậy, các bậc cha mẹ đừng xem nhẹ việc dạy dỗ con trẻ mình cách chào hỏi, ngay khi chúng bắt đầu biết nói.
1. Hồi nhỏ, khi tôi vừa biết nói, mỗi lần gọi “Ba ơi!”, ba tôi đều “Dạ”. Có người thấy “kỳ”, bảo: “Con gọi là “dạ” thì làm sao dạy nó được?”. Thực ra đó là cách dạy con của ba tôi và anh em chúng tôi đều hiểu rằng, ba đã dạ với mình thì mình hẳn nhiên phải dạ khi ba hoặc người lớn gọi!
Không phải là một triết lý mà là một phương thức ứng xử, một cách sống. Nhờ sự nghiêm khắc và đúng mực của ba, gia đình tôi chưa bao giờ có tiếng gọi “mày tao”, kể cả lúc ba mẹ giận hay la mắng anh em chúng tôi, cũng như giữa anh em với nhau. Ba mẹ tôi là nông dân không quen xưng “anh, em” với nhau nhưng cũng không bao giờ gọi là “mày tao”. Em thì gọi anh chị bằng thứ của anh (chị) chứ không gọi tên; anh chị thì gọi em bằng tên hoặc bằng “em” và xưng là anh (chị).
Sau này, ba mẹ tôi có dâu, rể, truyền thống đó vẫn được giữ tốt. Nói là “gia phong” như kiểu gia đình trí thức hay quyền quý thì không phải, nhưng tôi thấy gia đình mình vẫn có “nếp nhà” đúng nghĩa, mà những nhà khác có những điểm không hoàn toàn giống.
2. Con gái tôi biết nói từ lúc 18 tháng tuổi. Những câu đầu tiên tôi chú ý dạy cháu là “thưa”, “ạ”, “cảm ơn”, ngoài những câu mà đứa trẻ nào cũng gọi, như “ba ơi”, “mẹ ơi”… Sau mỗi lời “thưa”, “ạ”, “cảm ơn”, tôi tập cháu phải khoanh tay và cúi đầu. Tôi cũng tự tập cho mình phải “dạ” khi con trẻ gọi. Ở nhà trẻ, mỗi buổi tôi đến đón, thông thường, cháu mừng quá chạy ào ra ôm lấy tôi nhưng khi được nhắc lại “thưa cô” thì cháu luôn đến bên cô giáo vòng tay thưa rất lễ phép. Có bữa, chỉ cần tôi liếc mắc sang cô giáo thì cháu đã hiểu phải chào cô trước khi ra về, sau đó mới thưa tôi. Thậm chí có bữa, vì cô giáo bận nói chuyện với người khác, con bé cũng kiên nhẫn đứng chờ khi cô nhìn đến mình thì cháu mới chịu chào. (Về khoản thưa gửi này, con tôi ngoan hơn tôi lúc nhỏ. Ba tôi kể có lần, vì tôi không chịu thưa bà ngoại về, ba đã đánh đòn tôi một trận nên thân, mặc cho bà ngoài thương cháu hết lời xin giúp!) Đây là điều mà tôi học được từ ba mẹ.
Mới đây, khi xem quảng cáo về một loại bột nêm, thấy đứa trẻ mặc áo dài khăn đóng đang khoanh tay cúi đầu chúc tết ông bà, tôi thấy đó là một quảng cáo rất hay, hình ảnh thật đẹp và ấn tượng. Nhà tiếp thị đã nắm được tâm lý tôn trọng truyền thống của đa số khán giả xem truyền hình để đưa ra một hình ảnh có tính điển hình đồng thời gợi lại trách nhiệm về lễ nghĩa. Tôi nghĩ rằng, những loại quảng cáo như thế này sẽ dễ đọng lại trong lòng người xem.
3. Tôi nhớ mãi hình ảnh nhà văn Sơn Nam khoanh tay và cúi đầu chào mấy trăm sinh viên tại hội trường lớn của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cách đây gần chục năm. Dường như tất cả sinh viên ở đó đều quá bất ngờ với hành động mang đậm chất lễ nghĩa của “ông già Nam bộ” nên… không có biểu hiện đáp lễ đúng mực. Hôm đó, nhà văn Sơn Nam đến nói chuyện với sinh viên báo chí về hoạt động làm báo ở Sài Gòn trước năm 1975. Nói thực, câu chuyện của nhà văn khá tản mạn nên không thu hút được sinh viên lắm (chúng tôi hồi ấy vẫn thích đọc sách của ông hơn!). Bởi vậy, hình ảnh nhà văn Sơn Nam vòng tay cúi chào đã đọng lại trong tôi rất sâu đậm.
4. Ông bà ta có câu "Tiếng chào cao hơn mâm cỗ" khẳng định tiếng chào có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống giao tiếp hàng ngày. Đối với trẻ con, tiếng chào thường cũng là một trong những lời nói được cha mẹ, ông bà dạy rất sớm, chỉ sau tiếng "ba, mẹ".
Đầu tiên là tiếng "ạ" kèm theo cái gật đầu. Lúc mới biết nói, trẻ chưa thể phân biệt được ý nghĩa của cái gật đầu hay lắc đầu, cũng như chưa biết thế nào là lễ phép, vô phép. Nhưng bằng việc tập cho trẻ biết cúi đầu "ạ" trước một người khác tức là đã tạo cho trẻ có một thói quen. Đó cũng là điều lễ phép đầu tiên mà trẻ học được. Tiếp theo sau đó, là tiếng thưa, tiếng dạ, lời cảm ơn, lời xin lỗi, cái vòng tay cúi đầu…, tất cả nếu được dạy dỗ, uốn nắn, kềm cặp một cách cẩn thận sẽ giúp trẻ trở nên lễ phép, ngoan ngoãn, biết cung kính với người lớn.
Trong ngôn ngữ giao tiếp của tiếng Việt, chữ "chào" và "thưa" không phải lúc nào cũng có nghĩa tương tự nhau. "Thưa" có hàm ý kính trọng dành cho người trên trước, "chào" mang nghĩa trung tính, có thể dùng cho nhiều đối tượng hơn. Vì vậy có thể nói "chào bạn" và nên nói "thưa ông", chẳng hạn "thưa ông nội mới tới", "thưa ba con đi học mới về"… Khi trẻ đã được dạy cách chào hỏi như thế rồi thì dù bảo rằng "con chào ông rồi về!" thì trẻ cũng sẽ nói rằng "thưa ông con về!".
Tiếng chào có thể xem là một trong những mực trong thước đo tính “lễ”, tính “văn hóa” của mỗi người. Chính vì vậy, các bậc cha mẹ đừng xem nhẹ việc dạy dỗ con trẻ mình cách chào hỏi, ngay khi chúng bắt đầu biết nói.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét